Tướng LÊ QUANG LƯỠNG

Cũng như Tướng Trần Văn Hai, Tướng Lê Quang Lưỡng cũng là một đảng viên ĐVQDĐ bí danh Trí Đức và pháp danh Thiện Chánh. Tướng Lê Quang Lưỡng sinh ngày 01-6-1932 tại Bình Dương. Đ/chí xuất thân khóa 4 Thủ Đức cùng khóa với Tướng Ngô Quang Trưởng. Sau khi tốt nghiệp, đ/chí đă gia nhập vào Binh Chủng Nhảy Dù Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Tuong.LQ.Luong 

Qua quá trình chiến đấu từ cấp Trung Đội Trưởng đến Tư lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù đ/chí đă chứng tỏ là một sĩ quan tài ba, mưu lược và anh dũng. Đ/chí đă lập nhiều chiến công và hầu hết cấp bậc đều được vinh thăng ở chiến trường.

Tháng 6/1972. đ/chí được vinh thăng cấp Chuẩn Tướng.

Tháng 10/1972, đ/chí được bổ nhiệm chính thức làm Tư lệnh nhảy dù và cùng chiến sĩ dưới quyền chiến đấu cho đến ngày 30-04-1975.

Sau 30-4-1975, đ/chí rời khỏi đất nước trong niềm đau khôn tả; sau một thời gian ngắn ổn định gia đ́nh, đ/chí đă kết hợp với các anh em trong Đảng và ngoài Đảng mưu sự về Nước  chống bạo quyền Việt Cộng. Đ/chí đă âm thầm với một số chiến hữu về đến biên thùy Đông Dương nhưng trước những âm mưu đen tối của Chính quyền Thái Lan bấy giờ nên không thể tiến hành công cuộc tại đất Thái và đ/chí trở lại Hoa kỳ tiếp tục cùng các anh em trong Đảng mưu tính những hướng đấu tranh khác.

Trong những lần hội họp Đảng hình ảnh Anh vẫn hiên ngang, từ tốn góp ý, bàn bạc. Anh em luôn nhớ những lời anh nói:

 “Chuyện chính trị là phần các anh em trong Đảng lo, tôi và anh em khác lo phần quân sự.”

“Việt Cộng phải bị diệt thôi.”

“Chúng ta không được quyền bỏ cuộc, chúng ta phải hưng Đảng để cứu Nước…”

Ngày 21-9-2005 Đ/chí đă vĩnh viễn ra đi để lại bao ngậm ngùi và thương tiếc tột cùng cho gia đ́nh, Đảng và Đồng đội.

Nhớ Anh, tiếc Anh ghi lại một vài h́ình ảnh ngày cùng anh em mưu lo việc nước và các bài viết khác nói về Anh.

http://www.youtube.com/watch?v=u97gQWtoZWs

http://www.youtube.com/watch?v=vkdt9EZpeL0

 Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng

                                                                                                                                                                            VƠ TRUNG TÍN - NGUYỄN HỮU VIÊN . Việt Báo Thứ Ba, 9/9/2008

Tướng Lê Quang Lưỡng sinh năm 1932 quê tại tỉnh Bình Dương. Thời niên thiếu, học hết bậc Tiểu học tại tỉnh nhà ông lên Sài G̣òn theo học tại Trường Trung Học Petrus Kư. Sau khi lấy bằng Thành Chung ông gia nhập vào quân đội và xuất thân Khóa 4 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, cùng khóa với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu, Đại Tá Lê Văn Phát…Ngay khi vừa măn khóa vào ngày 1 tháng 06 năm 1954 ông t́nh nguyện sang Binh Chủng Nhảy Dù và được gởi ngay ra Bắc bổ sung cho Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù với chức vụ Trung Đội Trưởng của Đại Đội 52 ND. Từ đó ông đă trải qua các chức vụ chỉ huy từ cấp Trung Đội Trưởng (Thăng cấp  Trung Úy tháng 6/1956), Đại Đội Trưởng (Thăng cấp  Đại Úy  tháng 11/1963), Ban 3 Tiểu Đoàn rồi Tiểu Đoàn Phó.

Năm 1965 Ông được đi du học về “Tác Chiến Trong Rừng Núi Sình Lầy” tại Mă Lai Á. Tại quân trường ông đă trình bày chiến thuật tấn công và tác chiến theo quan điểm của riêng ông được tất cả các Huấn luyện viên đều chú ư và thán phục. Đến tháng 9/1965, về nước với bằng tốt nghiệp Thủ Khoa, ông được Tướng Dư Quốc Đống chỉ định nhiệm vụ thành lập và giữ chức Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2ND tại Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn Kiếp ở Bà Rịa. Trong buổi lể xuất quân của TĐ2ND vào tháng 1/1966, Đại Tá Lư Thái Như Chỉ Huy Trưởng TTHL/QG Vạn Kiếp đă Chủ Tọa và trao gắng cấp bậc Thiếu Tá cho Ông.

Sau buổi lể xuất quân, Tiểu Đoàn 2 ND về trấn giữ ṿùng đai Biệt-Khu-Thủ-Đô vừa chỉnh trang đơn vị, vừa tái huấn luyện tại chỗ. Chính ông đă đứng ra hướng dẩn tất cả Sĩ quan cũng như binh sĩ về chiến thuật và kỹ thuật tác chiến của Nhảy Dù và ngay sau đó TĐ2ND đă tham chiến tại khu phi chiến, tại đồi 1416 trên đỉnh Ngok Wank quân khu II, tại khắp các mặt trận ở các quân khu và đă từng gây kinh hoàng cho các đơn vị CS không thua bất cứ một đơn vị Nhảy Dù kỳ cựu nào khác.

Cuối năm 1967, ông sang Okinawa du khảo và học hỏi về Chiến thuật phản tình báo và chống chiến tranh du kích. Ngày 25/1/1968, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù thay thế Trung Tá Hồ Trung Hậu, đánh đuổi quân Cộng Sản ra khỏi Huế và Quảng Trị trong trận chiến “Tổng Công Kích năm Mậu Thân” của CS. Sau trận nầy ông được thăng cấp Trung Tá tại mặt trận vào tháng 4/1968. Và cũng trong chức vụ LĐT/LĐIND ông được thăng cấp Đại Tá tại mặt trận vào tháng 9/1969 sau các cuộc hành quân tại Tây Ninh để tiêu diệt các đơn vị CS lẩn khuất trong khu vực Chiến Khu C và  đưa chiến trường ra khỏi lảnh thổ Quân Khu III qua bên kia biên giới.

Kể từ đây, ông đă tham gia hầu hết các cuộc hành quân làm nên lịch sử của SĐND, như là Chiến dịch Bình Tây Kampuchea 1970, Hành Quân Lam Sơn 719 trên đất Lào vào tháng 02 năm 1971, giải vây An Lộc tháng 4/1972, Hành Quân Lam Sơn 72 trong chiến dịch Lôi Phong tái chiếm Quảng Trị vào tháng 06 năm 1972, và cuộc hành quân tái chiếm Thường Đức vào tháng 08 năm 1974. Trong ba cuộc hành quân đầu, Tướng Lưỡng đă tham dự với tư cách Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, trong các cuộc hành quân về sau Tướng Lưỡng đă điều quân với tư cách là Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù.

Trong trận chiến giải vây An Lộc năm 1972, tài điều binh của ông đă được đưa vào chương trình nghiên huấn của Trường Quân Sự Command and General Staff College (Đại Học Chỉ Huy & Tham Mưu) ở Fort Leavenworth, tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ sau hai danh tướng Tôn Tử, một thiên tài quân sự nổi tiếng của Trung Hoa thời Xuân Thu Chiến Quốc (722 – 480 TCN) và Erwin Rommel (1891 – 1944 có biệt danh là "the Desert Fox") một tướng lảnh lừng danh của Đức Quốc Xả vào đệ nhị thế chiến.

Trong trận chiến nầy ông đă phối hợp chiến thuật phân tán mỏng các đơn vị Nhảy Dù để bao vây, dùng các Tổ Khinh Binh đột kích vào các chốt của CS rồi dùng Phi Pháo và Pháo Binh tiêu diệt địch để phá vở chiến thuật Chốt Kiềng của CS tại suối Tàu Ô cũng như tại cửa ngỏ Sóc G̣n của An Lộc.

Đại Tá Lê Quang Lưỡng đă áp dụng yếu tố bất ngờ một cách táo bạo và thành công khi đổ quân Nhảy Dù xuống Sóc Ton Cui cạnh Đồi Gió để làm đầu cầu, rồi tiến vào An Lộc. Ông cũng đă nghi binh đánh lạc hướng địch quân khi liên lạc bằng hệ thống âm thoại báo cho Tướng Hưng rằng ông sẽ không vào An Lộc mà ngày mai Quân Đoàn sẽ đưa một đại đơn vị nhảy xuống phía Bắc An Lộc tấn công vào Đồi Đồng Long vào giải cứu các đơn vị bị bao vây. Ông được Tướng Minh Tư Lịnh Quân Khu III đặt trọn niềm tin và giao cho Ông trọn quyền quyết định sách lược.

Với kinh nghiệm lăo luyên trên chiến trường của một “Quân Đội con nhà nghèo” với sự yểm trợ tích cực của người bạn đồng minh, ông đă sử dụng tài tình và hiệu quả lối đánh thần tốc của các Chiến Binh Nhảy Dù với hỏa lực vô tiền khoáng hậu của phi pháo và các pháo đài bay B52 để tiêu diệt các đơn vị CS, để giải vây cho các đơn vị thuộc quyền, để mở rộng vòng đai và rồi hoàn toàn giải tỏa An Lộc.

 Tháng 6 năm 1972, Đại Tá Lê Quang Lưỡng được đề cử chức vụ Phụ-Tá hành-quân cho Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù là Trung Tướng Dư Quốc Đống trong chiến dịch Lôi Phong tái chiếm Quảng Tri. Cuối tháng 8 năm 1972, ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thăng cấp Chuẩn Tướng, và sau đó ông được bổ nhiệm giữ chức Tư Lệnh Phó, xử lư thường vụ chức vụ Tư Lệnh SĐND. Lúc bấy giờ Bộ Tư Lệnh Hành Quân Sư Đoàn Nhảy Dù đặt tại căn cứ Hiệp Khánh, cách Huế 17 km về phía Bắc.

Tháng 11 năm 1972,  Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng chính thức được chỉ định làm Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù cũng là vào lúc VNCH đang đi vào một giai đoạn cực kỳ khó khăn nhất trong lịch sử. Sư Đoàn Nhảy Dù do ông chỉ huy đă phải đương đầu với bao nhiêu thử thách từ phía Cộng quân cũng như từ phía Đồng Minh và nội bộ của VNCH. Nhưng ông luôn giữ đúng phong cách của một vị chỉ huy, thi hành trách nhiệm được giao phó một cách hoàn hảo và suốt đời tận tụy hy sinh cho tổ quốc đến những ngày cuối tháng 4/1975.

Trận đánh để đời sau cùng của ông là trận Thường Đức từ tháng 8/1974 đến tháng 11/1974 ông đă áp dụng chiến thuật Xa Luân Chiến để 3 Lữ Đoàn Nhảy Dù luân phiên giao tranh và gây thiệt hại nặng nề cho hai SĐ324B, SĐ304 và một Trung Đoàn của SĐ2CSBV cùng các lực lượng địa phương.

Năm 1975 vào những ngày tháng lịch sử của VNCH, lệnh từ trung ương bỏ quân Đoàn I và rút Sư Đoàn Nhảy Dù về Sài G̣n. Một tin chấn động cho toàn quân, toàn dân và sự kinh hoàng tột độ ấy đă mở đầu cho sự tan ră ồ ạt sau đó.

Hơn thế nửa, kể từ ngày SĐND được bốc khỏi Vùng I, quyền chỉ huy chiến thuật binh chủng Nhảy Dù, quyền xử dụng các chiến binh Nhảy Dù cũng vượt ra

khỏi tầm tay của vị Tư Lệnh. Các đơn vị Nhảy Dù đă bị xé ra từng mănh. Mỗi đơn vị một nơi rồi lần lược bị tan hàng.

Ngày 29 tháng 4 năm 1975 Tướng Lưỡng di tản sang Hoa Kỳ, với nỗi ngậm ngùi: “Sầu hận của tim ta ai biết được. Người tươi vui ta măi măi căm hờn”.

Và sau đó ông định cư tại thành phố Hampton tiểu bang Virginia, đến năm 1979 ông cùng gia đ́nh di chuyển về California thành phố Baker Field cho đến cuối đời.

Tuong-LEQUANGLUONG-2

Trong khoảng thời gian từ 1976 đến những năm 1982 ông có tham dự vào một số sinh hoạt trong nỗ lực trở lại VN tổ chức lực lượng kháng chiến nhưng tiếc rằng Trời đă không chiều lòng người. Sau này ông lui dần vào im lặng và ít khi lên tiếng. Ông cũng thường sinh hoạt và gần gũi với Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam từ năm 1980.

Năm 1990 ông cùng Tướng James B.Vaught Hoa Kỳ dẫn đầu đoàn diễn hành của Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam trên đại lộ Constitution, Washington D.C cùng với các đơn vị Nhảy Dù của 32 quốc gia bạn, nhân ngày kỷ niệm 50 năm thành lập binh chủng Nhảy Dù Hoa Kỳ. Nhảy Dù là đơn vị của QLVNCH đầu tiên và duy nhất từ trước cho đến thời điểm nầy, được mời chính thức rước ngọn cờ Vàng ba sọc Đỏ giữa lòng thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Hai bên đường dân chúng Hoa Kỳ và đồng bào Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản, đón tiếp và cổ võ nồng nhiệt.

Ngày 21/9/2005 Tướng Lê Quang Luỡng đă qua đời tại Bakefield California v́ chứng bệnh Gan, thọ 73 tuổi, để lại nhiều luyến thương sâu xa cho đoàn quân Mũ Đỏ. Đến phút cuối, ông nhất định không cho phủ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ lên “quan tài của một bại tướng lưu vong”, ông cũng trăn trối không nhận vòng hoa đưa đám, chỉ nhận tiền mặt để gởi về quê nhà giúp các đàn em thương tật. Tinh thần Tổ Quốc – Danh Dự - Trách Nhiệm và “Huynh Đệ Chi Binh” của người Anh Cả Mũ Đỏ không ai có thể cao hơn thế được. Tại San José California, một Cựu Chiến Binh Nhảy Dù - Định Thế 405 - đă thương khóc ông:

“Người đi…

Cây cỏ buốt đau thương!!!

Anh hùng Lê Quang Lưỡng.

Bàng hoàng…Nghĩ chừng vô tưởng.

Vị Tướng lănh hào hùng,

Dẫn đầu quân binh Mũ Đỏ.

Đă bỏ trần gian,

Vội vàng không giă biệt.

Âm âm lạnh, ḷng nhói đau da diết,

Thương hơn thương, tử biệt cơi sinh phù.

Hởi Thiên Thần máu đỏ thắm thiên thu,

Tim bất khuất, đời Hoa Dù vay trả.

Nghiệp cả trả chưa xong,

Đục trong trời phiêu lăng.

Ba mươi năm,

Những buổi chiều bàng bạc.

Cánh hạc thẫn thờ bay,

Cuộc đời nầy đen trắng.

Cả quá khứ đầy hận thù cay đắng,

Quê hương ơi chất nặng nghiệp linh hồn.

Vó ngựa chân bon…

Những bồn chồn từng thu qua chết lặng,

Vệt nắng vàng hoang vắng gió heo may.

Việt Nam ơi ! cả dân tộc đang quay,

Trận bảo lốc hay cơn say nghiệt ngă.

Ba mươi năm,

Khắp địa cầu xa lạ.

Đoàn Thiên Thần nghiêng ngă dắt d́u nhau.

Gượng cười thôi tim quằn quại thương đau.

Mỗi một bước vạn cơn sầu gậm nhấm.

Ba mươi năm,

Vàng đỏ đen tím xậm,

Nét kiêu hùng vẫn ẩn chứa trong tim.

Chưa bao giờ ta thật sự đứng im.

Dù một phút, nghĩ, ch́m trong dĩ văng.

Nhưng hôm nay bầu không gian ảm đạm,

Quân kỳ buồn, rủ xuống tiễn anh linh.

Quốc kỳ bay, tung ngao nghễ không thinh,

Lệnh kỳ bó, vành khăn tang đơn lạnh.

Hoàng Hoa Thám, mùa Trung Thu hiu quạnh.

V́ toàn quân mất vị Tướng anh hùng.

Quê hương ta mất dũng sĩ tận trung,

Và Tổ Quốc mất người hùng Mũ Đỏ.

Ba mươi năm,

Chiến trường ta còn đó,

Tư Lệnh ơi…Ông bỏ chúng tôi rồi ! ! !

Thế là xong…Thật ngắn ngủi kiếp đời,

Thoáng đấy, mới đây, gió trời mưa đất.

Vùng trắc ẩn rồi ai còn ai mất,

Nghĩa tử ly, oan khuất mủi thương ḿnh.

Định thế nào, là thảm bại quang vinh,

Thua hay thắng, thường tình trong dĩ nghiệp.

Mỗi Mũ Đỏ là lương tri thông điệp,

Để toàn dân phải ngưỡng mộ tri ân.

Họ đă tặng đời tim óc, xác thân,

Trong biển lửa, giữa gian trần bạc bẽo.

Cánh Dù rơi… Nơi xứ người lạnh lẽo,

Thiên Thần buồn réo khúc nhạc bi ai.

Cánh dù bung từng ôm cả chí trai,

Gom hoài bảo miệt mài trang dũng kiệt.

Kính ông Tướng…Trời tạm dung đơn độc,

Ngưỡng mộ anh hồn bay bổng sao băng.

Nơi mù xa vùng sinh tử trầm thăng,

Ông thanh thoát đất vĩnh hằng vô tận”

Vĩnh biệt Tư Lệnh.

Vĩnh biệt Đích Thân!!!

ChuanTuong-LEQUANGLUONG-1

 

Hồi Ký của Thiếu Tướng LÊ-QUANG-LƯỠNG

Thiên Thần Mũ Ðỏ Ai Còn Ai Mất

Tôi vẫn nhớ rõ như mới nhìn thấy hôm qua những khuôn mặt, giọng nói tác phong của những anh em Dù đã cùng tôi vào sinh ra tử. Thiếu Tá Thanh Tiểu đoàn 8 mà đồng đội của người Tiểu Ðoàn Trưởng nầy thường gọi là Thành Râu. Anh em chúng tôi có Thiếu Tá Châu Lùn Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 1, Thiếu Tá Hạnh, Hào Hoa Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 2, Thiếu Tá Trang Trĩ Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 3, Trung Tá Bùi Quyền, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 5 nổi nóng mặt đỏ gay, Thiếu Tá Lô Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 7, biệt danh là Lô Lọ Rượu. Anh em chúng tôi còn có Cậu Út Biên Hòa hay cậu "Bảy Tình" Mười Lựu Ðạn tức Trung Tá Thành, Tiểu Ðoàn 6, Trung Tá Trần Ðăng Khôi Lữ Ðoàn 2 tài đức song toàn.

Thiếu Tá Ðường TÐ9, thích làm thơ tình lãng mạn, gọi là Ðường Thi Sĩ, anh em chúng tôi có Thiếu tá Hồng Thu, Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ 16 gọi Cô Thu. Chúng tôi có 2 Ngọc, Ngọc Long Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Ðoàn 1 và Ngọc Nga, Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Ðoàn 4, Làm sao anh em Dù chúng tôi quên được, chúng tôi có 2 người bạn anh hùng, mỗi người chỉ có một mắt. Trung Tá "Bùi Ðăng" trong thẻ quân nhân không phải họ "Bùi" cũng chẳng có tên "Ðăng", tên anh là Bằng, Anh chỉ có một mắt. Nhưng những chiến sĩ của anh gọi anh một cách âu yếm là Bùi Ðăng. Trung Tá Trần Văn Sơn, Lữ Ðoàn Phó Lữ Ðoàn 2 cũng chỉ có một mắt từ ngày còn là Ðại Ðội Trưởng Tiểu Ðoàn 5, anh em Dù gọi là Hiệp sĩ Mù, tội nghiệp Sơn đã hy sinh trong trận chiến sau cùng tại mặt trận Phan Rang. Chúng tôi có Hiệp sĩ mù của chúng tôi, Hiệp sĩ mù của Thiên thần mũ đỏ không xử dụng cùng một loại vũ khí như Hiệp sĩ mù của phim ảnh và tiểu thuyết. Nhưng oai phong người Hiệp sĩ của Quê Hương ta chẳng thua sút sự hào hiệp của người trong truyện. Chúng tôi có Hiệp sĩ mù, chúng tôi có Bố Già. Làm sao quên Bố Già Lương Ruột Ngựa. Ðỉnh Tây Lai, Bố già Ðại Tá Lê Văn Phát, người tử thủ Khánh Dương, người lính già có mặt hầu hết những trận lớn của Quê Mẹ? Bố Già Lữ Ðoàn 3? Ðúng, chúng tôi có Bố Già đó.

 Tháng 6/1972, sau trận Bình Long, tôi được trả về Sư Ðoàn Dù, ít lau sau SÐ Dù được đưa ra Ðà Nẵng để tăng phái cho Quân Ðoàn I. Lúc đó tôi là Lữ Ðoàn Trưởng LÐ1 Nhảy Dù. Cùng với LÐ1 ra vùng I có LÐ2 và LÐ3. Thời gian nầy, Trung Tướng Dư Quốc Ðống là Tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù.

Sự phân phối các đơn vị Dù tại Quân Ðoàn I lúc ấy như sau: 2 Lữ Ðoàn ở phía Nam Ðèo Hải Vân. Tháng 9/1972, tôi được bổ nhiệm làm phụ tá hành quân Tư Lệnh Sư đoàn Nhảy Dù. Vào tháng 8 năm đó, Trung Tướng Dư Quốc Ðống bị bệnh, Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu, Tư lệnh phó Sư Ðoàn được chỉ định đảm nhận Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, còn Ðại Tá Bảo, Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn thì vừa tử nạn phi cơ, do đó tôi được đảm nhận trách vụ xử lý thường vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù một cách không chính thức. Cuối tháng 8, cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu triệu hồi tôi vào Dinh Ðộc Lập để làm lễ tăng chức Chuẩn Tướng cho tôi, và sau đó tôi được bổ nhiệm Tư Lệnh phó, xử lý thường vụ chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù đóng tại căn cứ Hiệp Khánh, cây số 17 Bắc Huế. Ðến tháng 11/1972, tôi chính thức nhận chức Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù, thay thế Trung Tướng Ðống từ nhiệm vì lý do sức khỏe. Khoảng thời gian 72 đến 75 ải địa đầu của Tổ Quốc của ta không phải là vùng đất bình lặng, Quảng Trị, Thạch Hãn, Chu Lai, Cố Ðô Huế. Những danh xưng đủ nói lên những trời giao động. Những người lính chiến được đồng bào gọi một cách âu yếm là "Thiên Thần Mũ Ðỏ". Trong suốt thời gian máu lửa đó đã có mặt khắp cùng trên những vùng đất ải địa đầu, cùng anh em quân nhân thuộc các quân binh chủng khác, mang lại cho đồng bào, tuy không phải sự bình yên tuyệt đối cũng là một tình hình khả quan.

Năm 1975, vào những ngày tháng Lịch Sử, chúng tôi đứng vững vùng I. Ðập những nhịp tim tin tưởng, anh em chúng tôi, một mặt nhìn bao quát tình hình chiến trường khắp nước, một mặt theo dõi mọi tiến thoái của các đơn vị đối phương trong vùng, tay cầm súng sẵn, chờ địch quân. Thói quen tiến vào chỗ chết, thói quen chấp nhận trận địa mười thua một ăn mà vẫn chiến đấu oai hùng, làm cho anh em Dù, mặc dù tin tức giao động đến từ bốn phía, vẫn tiếp tục sẵn sàng chiến đấu, tiếp tục cố gắng.

 Lệnh của cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gọi Sư Ðoàn Dù về SàiGòn hiện ra với tôi, bởi đó như một chấn động. Tôi chờ đợi mọi thứ trong tư thế sẵn sàng. Ðợi đối phương ào ạt vượt sông Thạch Hãn, đợi chiến xa địch đến đây, miền Trung kiêu hãnh từ những vùng rừng rậm Nam Lào. Nhưng tôi không chờ đợi được điều đó. Lệnh di chuyển SÐ Dù về SàiGòn, lệnh không phải chỉ nghe một phía mà từ mọi hướng. Ngày 10.03.1975, Việt Cộng tấn công Ban Mê Thuộc. 11.03.1975 Ban Mê Thuộc thất thủ. Tổng Thống Thiệu gọi Trung Tướng Trưởng vào SàiGòn nhận chỉ thị. Lệnh khủng khiếp, lệnh làm choáng váng, làm tan nát, đó là "Bỏ vùng I". Dường như muốn cho lệnh tổng quát đó được thi hành chính xác, Tổng Thống Thiệu đòi Trung Tướng Trưởng phải tức khắc cho rút Sư Ðoàn Dù về SàiGòn ngay. Cho chắc ăn, SàiGòn qua lệnh rút Sư Ðoàn Dù về, muốn trói tay Trung Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn I. "Trói tay" là một hình ảnh dễ hiểu nhưng có lẽ không đủ nghĩa. SàiGòn đã lấy mất thanh gươm và chặt hết một cánh tay, cánh tay cầm gươm của Tướng Trưởng khi đối phương bắt đầu tiến tới.

Chỉ sau vài chục giờ sau khi lệnh Tướng Trưởng trả Dù về SàiGòn, công điện tối mật của Tổng Tham Mưu do chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ký gởi cho Tư Lệnh Sư Ðoàn Dù hạ lệnh toàn bộ Sư Ðoàn Dù rời khỏi miền Trung không chậm trễ. Lúc đó tin Thủy Quân Lục Chiến rút khỏi Quân Ðoàn I cũng bắt đầu loan ra.

Ngày 17/03/75, sau khi đã thực hiện đầy đủ những giải pháp kỹ thuật cho các anh em Dù rời miền Trung, chuyển vận, tiếp liệu, an toàn khi ra đi v.v...tôi lên gặp Trung Tướng Trưởng để chào từ giã. Tôi nói với Trung Tướng Trưởng về việc Thủy Quân Lục Chiến cũng sẽ ra đi. Tôi cũng nói lên những lời hàm ý chia sẻ ưu tư của Trung Tướng về sự "Trói tay", sự tước bỏ mọi hỗ trợ trước một trận đánh lớn. Khuôn mặt Tướng Ngô Quang Trưởng, vẫn sẵn ưu tư, càng hiện ra ảm đạm. Ông chỉ cầm tay tôi nói:"Cảm ơn anh và các Anh em Nhảy Dù đã giúp tôi rất nhiều trong những năm qua".

Anh em quân nhân Nhảy Dù nghĩ rằng mình được di chuyển toàn bộ về SàiGòn. Các Sĩ quan chỉ huy từ Ðại Ðội cho đến Lữ Ðoàn được loan báo là họ được di chuyển về thủ Ðô VNCH. Tướng Trưởng được lệnh "trả Sư Ðoàn Dù về SàiGòn". Lệnh tôi nhận được cũng rất rõ rệt: Ðưa Sư Ðoàn Dù về SàiGòn.

Có thể những sử học trong tương lai cũng tóm tắt sự di chuyển của anh em chúng tôi bằng những dòng chữ "Tướng Thiệu, để chặt tay Tướng Trưởng, để gây cho Dân, Quân miền Trung sự kinh hồn tột độ, mở đầu cho tan rã ồ ạt, hạ lệnh rút Sư Ðoàn Dù ra khỏi tuyến đầu".

Sự việc không hoàn toàn đơn giản như thế. Lệnh rút Sư Ðoàn Dù về SàiGòn chỉ là một lệnh bề mặt mà chiều sâu là phân tán Sư Ðoàn Dù. Ông Thiệu áp dụng kế hoạch "Bẻ bó đũa" làm tan tành một đoàn quân bách chiến, một Binh chủng oai hùng, xô đẩy những Thiên Thần vào hỏa ngục. 12 Tiểu Ðoàn Trưởng trên 18 linh hồn của đoan quân Mũ đỏ hoặc gục ngã ở chiến trường sắp đặt, hoặc rơi vào tay địch, có cả một Lữ Ðoàn tan thành mây khói, có cả một Lữ Ðoàn đánh đoạn hậu bảo vệ cho đồng bào di tản và tới phiên mình quân trải trên một diện tích rộng lớn, chỉ xuống tay được mấy trăm con.

Lệnh tôi nhận được là chia Sư Ðoàn Dù ra làm hai nhánh, một đi tàu thủy và một do không vận. Lữ Ðoàn 1 và 2 di chuyển bằng phi cơ của Không Lực VNCH. Lữ Ðoàn 3 di chuyển bằng tàu HQ-404 của Hải Quân VN. Lữ Ðoàn 1 và 2 đến điểm hẹn như ấn định, nhưng Lữ Ðoàn 3 không được đưa đến nơi. Khi HQ-404 đến gần Nha Trang thì Hạm Trưởng nhận được lệnh đổ anh em xuống Nha Trang. Tôi chưa kịp ngạc nhiên, nhưng ý tưởng thắc mắc vì sao Tổng Thống Thiệu nói đưa toàn bộ Sư Ðoàn Dù về SàiGòn để rồi phân tán một phần đi nơi khác. Dù vậy, không bao giờ tôi quên được khuôn mặt, mắt liếc xéo, nụ cười khoái trá, giọng nói chứa đựng thỏa mãn, toàn bộ khuôn mặt toát ra một sự khoan khoái kỳ lạ. Cựu Tổng Thống nhìn tôi với tia mắt kỳ lạ đó với nụ cười ở cuối môi, ông nói: "Theo anh liệu Trung Tướng Trưởng có giữ nổi Quân Ðoàn I khi tôi rút Sư Ðoàn Dù về đây không?".

Mặc dù lệnh lạc lung tung, bảo về SàiGòn lại đổ xuống Nha Trang, mặc dù bảo về dưỡng quân lại được ném ra mặt trận, là một quân nhân kỷ luật, ý thức được rằng sức mạnh đến từ kỷ luật sắt thép, anh em Lữ Ðoàn 3 xuống Cầu Ðá Nha Trang là lên đường đi chiến đấu ngay. Ðại Tá Lê Phát, người nắm Lữ Ðoàn 3 cũng là người có biệt hiệu "Bố Già" đặt Bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn tại Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ. Nhiệm vụ của Lữ Ðoàn 3 là nút chặn địch ở Khánh Dương giúp cho các Ðơn vị của Quân Ðoàn II rút lui an toàn. Biết rõ sự oai hùng của các Thiên Thần Mũ Ðỏ của QLVNCH, Văn Tiến Dũng tung 2 Sư Ðoàn với quân số 6 lần, là những SÐ 320 và SÐ 10 đánh bọc ngang hông. Lữ Ðoàn 3 Dù bình tĩnh và oai hùng chiến đấu, quất cho quân địch tổn thất nặng nề. Lữ Ðoàn 3 còn ở Khánh Dương, địch không thể đi lên một bước. Ngày 28/03, vì quân số đối phương đông gấp 10 lần, nên không thể ngăn chặn vĩnh viễn, vì lệnh SàiGòn hay vì một lý do nào khác, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã ra lệnh cho Ðại Tá Phát rút Lữ Ðoàn 3 từ Nha Trang vào Phan Rang, sau đó lệnh lại được đưa xuống là bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn và các thành phần yểm trợ thì rút về Phan Rang, còn 3 Tiểu Ðoàn 2, 5, 6 thì rút lên núi trấn giữ ở đó. Tại sao lại đưa 3 Tiểu Ðoàn Dù lên núi? Nghe tin này tôi vội vã bay ra Phan Rang.

Tư Lệnh Nhảy Dù trên nguyên tắc và bởi định nghĩa là người chỉ huy binh chủng Nhảy Dù. Nếu không được tham dự vào việc hoạch thảo chiến lược, thì ít nhất trách nhiệm chiến thuật phải được trọn vẹn. Tôi không được Tổng Tham Mưu hay Phủ Tổng Thống tham khảo một lần nào về chiến lược lui quân, kể từ ngày binh chủng Dù được bốc khỏi Vùng I, quyền chỉ huy, chiến thuật binh chủng Dù, quyền xử dụng anh em quân nhân Dù cũng vượt ra khỏi tầm tay của Tư Lệnh Dù. Anh em binh chủng tôi đặt chặt và giao cho người nầy một mảnh, người kia một miếng. Khi nhìn thấy chiến hữu của tôi bị vất vả cùng cực, tôi chạy ngược chạy xuôi đi can thiệp. Trong những giờ chạy đôn chạy đáo, ý tưởng ghê gớm lóe lên trong tôi, "Phải chăng một ác thần đang làm tê liệt hàng vạn tinh binh trước khi mở ra cuộc hỏa thiêu thành La Mã?".

Tôi bay ra Phan Rang gặp ngay Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi lúc đó là Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn III, đang chỉ huy Bộ tư Lệnh tiền phương tại đây. Nơi đó tôi cũng gặp Tướng Sang Tư Lệnh Sư Ðoàn 6 Không Quân. Tôi yêu cầu cho trực thăng lên núi bốc 3 Tiểu Ðoàn 2, 5, 6 về Phan Rang. Tướng Nghi chấp thuận, chỉ thị Tướng Sang cho Không Quân giúp. Anh em trực thăng đã rất nhiệt tâm và can đảm trong việc bốc hơn 1000 người bỗng nhiên bị ném lên một ngọn núi chơ vơ mà không một lý do chiến lược hay chiến thuật nào giải thích được cả. Lữ Ðoàn 3 trong tư thế vững vàng, sẵn sàng chiến đấu nghiêm chỉnh trong vị trí đứng đắn. 30.03.1975, tôi tạm yên tâm, bay về SàiGòn.

Vừa đặt chân đến Thủ Ðô, tôi được lệnh Tổng Tham Mưu cho Lữ Ðoàn 2 ra Phan Rang thay thế Lữ Ðoàn 3, Lữ Ðoàn 3 về SàiGòn tái chỉnh trang Ðơn vị. Tôi muốn hét to lên: Tăng cường chớ sao lại thay thế? Mặt trận đang nặng, rút một đập ngăn nước lớn đi, đập mới chưa dựng xong, nước sẽ ùa tới mang lụt lội tàn phá tan tành! SÐ 310 và 320 của đối phương đang di chuyển nhanh về vùng 3 chính vào lúc đầu tháng tu nầy. Sư Ðoàn 10 của địch càn quét Nha Trang. Mặt Bắc là Sư Ðoàn 10, Nam là các SÐ 310 và 320, tăng chúng ào ào, tù nhân thả ra do bàn tay bí mật từ các khám đường, một số quân nhân của một binh chủng bị mất cấp chỉ huy sinh rối loạn, chính trong biển hỗn loạn và tan vỡ đó, người ta ném Lữ Ðoàn 2 Dù, những đứa con thân yêu ruột thịt của tôi, những bằng hữu vào sinh ra tử, nằm gai nếm mật của tôi trọn lượng ném vào khoảng trống, viên ngọc quý ném vào đại dương giông bão. 3 Tiểu Ðoàn 3, 7, và 11 của Lữ Ðoàn 2 chiến đấu như những con cọp bị vây hãm, dường như sợ cái đại dương hỗn loạn đó chưa đủ làm thành một hỏa ngục rực lửa, người ta không ai còn nhớ đến việc tiếp tế cho những Thiên thần Mũ Ðỏ từ trời cao đáp thẳng xuống địa ngục A Tỳ. Anh em Lữ Ðoàn 2 mặc dù tình hình rối loạn, mặc dù tin tức giao động từ bốn phía, mất Quân Ðoàn I, Quy Nhơn thất thủ, Nha Trang thất thủ, anh em vẫn chiến đấu, cho đến viên đạn cuối cùng. Tiểu Ðoàn 6 sau những trận oai hùng được lệnh Tổng Tham Mưu rút khỏi Phan Rang, Liên Ðoàn 3 Biệt Ðộng Quân của Ðại Tá Biết thay thế. Nhưng Tiểu Ðoàn 3 chỉ 100 anh em được trực thăng bốc về Phan Thiết, Tiểu Ðoàn 11 mất liên lạc toàn diện. Tôi mất Thiếu Tá Thành, con chim đầu đàn của Tiểu Ðoàn 11 và Ðại Tá Nguyễn Thu Lương, mà anh em chúng tôi thường gọi một cách thân thương là "Lương Ruột Ngựa", con chim đầu đàn của Lữ Ðoàn 2 cũng tại vùng đất lửa này. Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi cũng lọt vào tay địch ở Phan Rang.

Chiếc đũa Lữ Ðoàn 2 bị bẻ gãy, chiếc đũa Lữ Ðoàn 3 bị ném tại Khánh Dương, bốc về Phan Rang, lửa hỏa lực nung nấu mệt nhừ. Ngày 8.4.1975, viên Trung Úy Không Quân tên Trung ném bom Dinh Ðộc Lập, về mặt dân sự, một số chính khách đối lập bị bắt giữ. Nhưng phản ứng của Tổng Thống Thiệu là đưa "chiếc đũa Lữ Ðoàn 1" chiếc đũa còn nguyên vẹn của bó đũa bị tách rời từng chiếc, ra tăng phái Quân Ðoàn III, dưới quyền chỉ huy của Tướng Nguyễn Văn Toàn. Ý tưởng rõ rệt trong tôi, và cả bây giờ là Tổng Thống Thiệu sợ đảo chánh nên phân tán các đơn vị Nhảy Dù ra các nơi. Tôi là Tư Lệnh Nhảy Dù nhưng tay chân hoàn toàn bị chặt hết.

Ý tưởng làm sống dậy hình ảnh, một ngày tại vùng I, ở Cố Ðô Huế, tôi nói với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng: "Trung Tướng cứ để anh em tôi về SàiGòn làm một chuyến, thử xem sao?" Trung Tướng lắng nghe lặng lẽ. Tôi hiểu Tướng Trưởng cũng như anh em chúng tôi là những người lính đơn thuần, chỉ lấy việc bảo vệ Quê Hương làm quan trọng, không màng gì tới danh vọng và chính trị, chúng tôi không có thói quen chọn lựa những quyết định không liên quan trực tiếp đến chiến trường. Cựu Tổng Thống Thiệu có nghe phong phanh về những toan tính đó không? Trong mọi trường hợp, lúc đó tôi nghĩ là ông phân tán anh em chúng tôi vì nghi ngờ. Bây giờ tôi còn muốn nghĩ như thế. Trừ khi ông muốn bẻ tan bó đũa vì lý do khác - Lý do khủng khiếp - Tôi không muốn nghĩ tới lý do đó. Tôi muốn nghĩ đến một sự nghi ngờ. Như một sự xua đuổi ý nghĩ ghê gớm kia.

Lữ Ðoàn I ra Quân Ðoàn III trấn giữ Xuân Lộc, tăng phái cho Sư Ðoàn 18 do Chuẩn Tướng Lê Minh Ðảo chỉ huy. Nhiệm vụ của Lữ Ðoàn là chận đứng bước tiến của VC vào SàiGòn. Anh em Dù của Lữ Ðoàn 1 đã oai hùng làm tròn nhiệm vụ, địch quân không tiến thêm được một tấc đất. Ðoàn quân viễn chinh của Võ Nguyên Giáp, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Văn Tiến Dũng, tiến như thác đổ, bị khựng lại ở ngay cửa ngõ của SàiGòn. Từng đợt xung phong có chiến xa và pháo binh yểm trợ, tất cả đều bị đánh bật, tiến lên là phải lùi lại, tấc đất đánh được buổi sáng, buổi chiều anh em Dù ngạo nghễ giành lại. Sau nhiều ngày giao tranh, Sư Ðoàn 18 được lệnh rút về Biên Hòa, Lữ Ðoàn 1 chiến đấu giữ vững trận tuyến, từ đầu tới cuối. Sau chót đến đêm 28 rạng 29/04, Bộ Ðội CS tấn công Lữ Ðoàn 1 Dù ở Lăng Can, Bà Rịa đánh đến giờ chót, Lữ Ðoàn 1 Dù mới rút ra Vũng Tàu. Tôi được lệnh trực tiếp do Trung Tá Nguyễn Văn Ðỉnh, Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Ðoàn 1 Dù, mà anh em chúng tôi âu yếm gọi là Ðỉnh Tây Lai đứng ở dưới bờ bảo vệ cho những đứa con lên tàu. Người chỉ huy Nhảy Dù có thói quen ở với hiểm nguy cho tới phút cuối cùng, dành sự an toàn cho từng đứa con yêu quý. "Ðỉnh Tây Lai" là một trong những Thiên Thần lẫm liệt đó.

Về phần Lữ Ðoàn 4, từ Ðà Nẵng được rút về SàiGòn giữa tháng 02/74, biệt phái Biệt Khu Thủ Ðô. Chính Lữ Ðoàn 4, dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lê Minh Ngọc, mà anh em Dù chúng tôi âu yếm gọi là "Ngọc Nga", đã chận VC ở cửa ngõ Thủ Ðô, ngang Xa Lộ Biên Hòa, trong những giờ khắc SàiGòn bắt đầu rơi vào rối loạn. Lữ Ðoàn 3 của Trung Tá Trần Ðăng Khôi (Lữ Ðoàn Phó mới thay thế Ðại Tá Phát trong chức vụ Lữ Ðoàn Tưởng Lữ Ðoàn 3 Dù, Trung Tá Bùi Quyền Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 5, thay thế Khôi trong chức vụ Lữ Ðoàn Phó) từ Phan Rang rút về đóng ở Hoàng Hoa Thám, đánh những trận chót ngay trong lòng Thủ Ðô, mặc dù trăm nghìn giao động cho tới phút chót. Ðến những giây phút cuối cùng, anh em Dù vẫn giữ vững từng tấc đất được giao phó, hoàn thành nhiệm vụ thiêu thân nút chặn để đồng bào ra đi, để được ngã gục trên thân thể của Quê Mẹ nghìn đời.

 

Tại sao Tướng Lê Quang Lưỡng dặn: 'Tôi chết đừng phủ cờ vàng?'                                                                  Friday, April 19, 2013 6:12:41 PM

Thời trung cổ, các chiến binh người Mông Cổ khi ngồi trên mình ngựa ra trận tiền mà không may tử trận, các đồng đội của họ lập tức giết chết con ngựa mà anh ta cưỡi, lột lấy bộ da ngựa gói chặt tử thi quân nhân này rồi cho chuyển về hậu phương hỏa táng theo tục lệ của quân đội người Mông Cổ.

Ðây là một nghi thức đầy vinh dự chỉ dành cho người lính chết trận, không có biệt lệ dù đối với hàng tướng lãnh. Nghi thức này được lưu truyền tới ngày nay đối với nhiều quân đội tại các quốc gia trên thế giới, nhưng thay vì người ta dùng bộ da ngựa bọc thây người lính tử trận thì dùng lá quốc kỳ của quốc gia đó phủ trên quan tài người đã vì đất nước mà hy sinh.

Thời quân đội Quốc Gia Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp, quốc kỳ vàng ba sọc đỏ chỉ được phủ lên quan tài quân nhân tử trận. Nhưng sang đến thời Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa, tục lệ này được nới rộng cho cả bên lực lượng bán quân sự, cán bộ và công chức nếu họ hy sinh đang lúc thừa hành công vụ. Sở dĩ tục lệ này được nới rộng ra hàng ngũ những người không phải quân nhân là để cho công bằng vì trong chiến tranh, nếu có người hy sinh vì quân vụ thì cũng có người hy sinh vì công vụ, họ cũng phải được nhận vinh dự mà quốc gia dành cho họ. Năm (5) cuối cùng của Ðệ Nhị Cộng Hòa, các ngành công chức và cảnh sát còn được quyền tạo những huy chương riêng để vinh danh những viên chức hay nhân viên làm việc xuất sắc, chẳng hạn như ngành thông tin và chiêu hồi có Tâm Lý Chiến Bội Tinh Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Hạng. Huy chương cao quí nhất của công chức, cán bộ là Chương Mỹ Bội Tinh Ðệ Nhị và Ðệ Nhất Hạng, riêng Ðệ Nhất Hạng Chương Mỹ Bội Tinh khi gắn xong phải cử quốc thiều như Bảo Quốc Huân Chương bên quân đội.

Tôi nhắc lại một vài chi tiết để cho thấy rằng trong điều kiện nào một quân nhân hay một dân chính phục vụ quốc gia được hưởng vinh dự mà quốc gia ban cho qua người đại diện hàng đầu cho quốc gia ấy. Tổng Thống VNCH và đồng thời là tổng tư lệnh quân đội hay viên chức được ủy nhiệm là người đại diện cho quốc gia để trao gắn huy chương hay quyết định phủ lá quốc kỳ vàng ba sọc đỏ lên linh cữu của một quân nhân hy sinh ngoài chiến trường hay một công chức tử nạn đang lúc thi hành công vụ.

Những tài liệu báo chí được lưu trữ trong Thư Viện Quốc Gia VNCH, dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, Tướng Hồ Văn Tố chỉ huy trưởng Trường Bộ Binh Thủ Ðức đã bị vị tổng tư lệnh quân đội từ chối phủ quốc kỳ lên quan tài vì lý do ông qua đời không phải là từ một nguyên nhân vinh dự. Năm 1964, phóng viên mặt trận của Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia, anh Khuất Duy Hải, tử trận tại chiến trường Ðức Cơ, Pleiku, đã không được phủ quốc kỳ chỉ vì lý do anh không phải là quân nhân. Tang lễ được hệ thống truyền thanh quốc gia đứng ra cử hành trọng thể, tổng ủy viên Thông Tin (chức vụ tương đương với tổng trưởng Thông Tin trong Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương), Tướng Nguyễn Bảo Trị đã đại diện chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương đến gắn Anh Dũng Bội Tinh với Ngành Dương Liễu trên quan tài và vào dịp này bản tuyên dương công trạng cố phóng viên mặt trận Khuất Duy Hải được đọc lên, nhưng không có quyết định phủ cờ vì trường hợp anh là trường hợp đầu tiên một phóng viên mặt trận dân sự của ngành truyền thanh quốc gia tử trận trên chiến trường khi đang thi hành công vụ. Dù phóng viên mặt trận Khuất Duy Hải với những ký sự chiến trường được viết rất nhân bản và xúc động phát thanh hàng tuần, hấp dẫn được hàng triệu thính giả, nhưng chính phủ lúc đó là chính phủ quân nhân, chưa có tiền lệ phủ cờ nào dành cho những công chức trung cấp hy sinh ngoài tiền tuyến.

Tôi nhắc lại một vài chi tiết lên quan đến nghi thức “da ngựa bọc thây” đầy xúc động và vinh dự cho người nằm xuống trong trận mạc hay phục vụ quốc gia không ngoài mục đích gì khác hơn là để nhắc lại rằng VNCH khi xưa dù chưa phải là một vùng đất dân chủ tự do hoàn toàn, nhưng những nguyên tắc liên quan đến việc ban phát ân sủng của quốc gia rất chặt chẽ. Cho nên sau này nhiều đồng hương ở đây đưa ra những lời khuyên rất chí lý: “Dù VNCH đã mất, dù quân đội, cảnh sát công chức, cán bộ đã tan hàng nhưng nên duy trì cái dấu ấn tinh thần từ những gì đã mất.” Dấu ấn tinh thần đó là gì? Nhiều người trong cộng đồng giải thích theo cách nhìn của họ “đó là tinh thần chí công vô tư, giữ gìn tín niệm Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm một cách thành thực.” Ngày 30 Tháng Tư gần kề, vấn đề trách nhiệm lại được đặt ra chứ không phải chỉ là những than khóc và những lời đãi bôi nơi cửa miệng.

Năm nay, vấn đề ai là những người phải chịu trách nhiệm đã để một nửa đất nước từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau rơi vào tay những người cộng sản được đặt ra với một bài thơ, một di chúc rất xúc động của một cố tướng lãnh VNCH: “Mai tôi chết, xin cờ vàng đừng phủ.” Ðó là Thiếu Tướng Lê Quang Lưỡng, nguyên tư lệnh sư đoàn Nhảy Dù mà thời chiến tranh Việt Nam, báo chí gọi ông là “con sói của trận mạc,”

Việc ông di tản sang Hoa Kỳ vào ngày 29 Tháng Tư, 1975 đã trở thành vết thương và niềm u sầu suốt những năm tháng sau này qua một câu thơ mà nhiều người thích “Sầu hận tim ta ai biết được.”

 Nhưng chính lời trối trăn của ông đối với đồng đội, đồng hương đã làm hình ảnh của một bại tướng trở nên sáng ngời:

“Tôi làm tướng không bảo vệ được nước, khi nước mất tôi đã không dám chết theo nước, nên khi tôi chết già yêu cầu đừng phủ quốc kỳ lên quan tài tôi, vì tôi tự biết mình không xứng đáng được hưởng lễ nghi nầy.”

Với lòng can đảm tuyệt vời, vị tướng lãnh đáng được trân trọng nói trên đã để lại lời nói cuối cùng trước khi qua đời bao hàm nỗi lòng u uẩn của dũng tướng, nhưng trong một phút chùng lòng đã không theo được gương của người xưa “thân làm tướng khi thành mất thì phải chết theo thành.” Nỗi buồn đó theo ông suốt những năm tháng còn lại của cuộc sống lưu vong trên xứ người, để rồi cuối cùng chuẩn bị cho cái chết ông đã can đảm từ chối vinh dự “da ngựa bọc thây,” khác với các tướng lãnh thời đương thời và cùng hoàn cảnh di tản như ông.

Nó là một thông điệp dứt khoát kêu gọi những người có trách nhiệm về việc mất miền Nam Việt Nam hãy can đảm nhận trách nhiệm của mình, chấm dứt những nỗ lực tìm người lãnh đạo cuối cùng phải đầu hàng để trút trách nhiệm cho họ, chấm dứt việc đòi lại danh dự cho nhà lãnh đạo này hay lãnh đạo khác mà biến cố cách đây 38 năm đã biến họ thành đào ngũ, đào nhiệm trước địch quân, chấm dứt việc đem lá quốc kỳ đã thấm máu quân, dân, cán, chính VNCH để đem phủ cho những người không đáng được hưởng vinh dự đó, hãy xét lại cho thật kỹ việc tự thêu khăn quàng, tự mang cà-vạt, đội mũ, mặc áo, tự sơn xe riêng của mình mầu cờ vàng ba sọc đỏ và nên tự hỏi: liệu mình có xứng đáng mang lá cờ này không, có đủ nhân cách, tư cách, có đủ sự trung thành với là cờ đó không hay việc ôm lấy lá quốc kỳ chỉ để che giấu những hoạt động chính trị thiếu chính trực của mình?

Tôi là phóng viên mặt trận của hệ thống truyền thanh quốc gia đã từng theo tường thuật hành quân và các trận đánh lớn từ thời Tướng Lê Quang Lưỡng còn là tiểu đoàn trưởng cho đến lúc ông trở thành lữ đoàn trưởng Lữ Ðoàn 2 Sư Ðoàn Nhảy Dù, cho nên tôi hiểu nỗi đau của ông khi phải viết lại di chúc này. Nhưng ngay từ những năm 1964, 1965 khi chiến tranh bắt đầu lan rộng, Tướng Lê Quang Lưỡng đã là một ngôi sao sáng trong số những ngôi sao còn rất trẻ ở sư đoàn Nhảy Dù, một đại đơn vị lúc nào cũng ở tuyến đầu, nhận chịu những áp lực nặng nề nhất từ phía CSBV, nhưng họ đã vượt qua được muôn trùng khó khăn là do giữ được kỷ luật và tín niệm Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm.

Riêng Tướng Lê Quang Lưỡng khi còn là tiểu đoàn trưởng đã được báo chí miền Nam gọi là “con sói của trận mạc” không có gì sai cả. Kiên trì vượt lên trên những lần thất bại, luôn luôn là tấm gương tinh thần cho những sĩ quan và binh lính thuộc cấp, gan dạ và mưu lược trong những giây phút căng thẳng và nguy hiểm nhất cho đơn vị, đối xử tốt và đúng luật đối tù binh địch, Tướng Lê Quang Lưỡng đã ngồi vào chức vụ tư lệnh của một trong những đơn vị tổng trừ bị hàng đầu của Quân Lực VNCH.

Là một người công trạng sáng chói như ông mà chỉ vì một quyết định không mấy vinh dự khi đất nước nghiêng ngửa mà tên tuổi của ông bị một vết chàm tưởng như sẽ vĩnh viễn không gột rửa. Nhưng lòng yêu nước, trọng danh dự và trách nhiệm được thể hiện qua bài thơ: “Khi tôi chết xin cờ vàng đừng phủ,” ông đã nhận lại được danh dự và sự chính trực của một người mang thân làm tướng và đang là bại tướng. Gặp lại ông trong đám cưới của một người bạn năm 2001, ông cho mời tôi lại bàn. Dù tôi không biết uống rượu, tôi đã rót đầy ly của ông để đánh dấu ngày gặp lại người lính trận mà tôi vẫn nể phục này, ông chỉ thân mật cười, giọng trầm: “Chắc Ánh chưa biết anh không còn uống rượu được nữa vì bệnh. Vả lại nhiều năm qua, anh thấy rượu sao đắng quá.” Tôi nhìn lại “con sói già,” người hùng thở nào trên các mặt trận ở Quảng Trị, Cùa, Ðông Hà, Hải Lăng, Mỹ Chánh, PK.17, Kontum, Pleiku... tự nhiên thấy mắt mình cay cay. Ðó là lần cuối cùng tôi gặp ông.

Giờ đây, chắc linh hồn Tướng Lê Quang Lưỡng đã yên ổn thênh thang ở cõi không còn chiến tranh và hận thù. Ông chắc đã gặp lại các đồng đội cũng từng hành động can đảm giống như ông. Ðó là Ðại Tá Huỳnh Thanh Sơn, tư lệnh phó Sư Ðoàn 7 Bộ Binh, và cựu Trung Úy Ðoàn Bá Phụ, một trong những đại đội trưởng xuất sắc của Tiểu Ðoàn 7 Nhảy Dù. Ðại Tá Sơn xuất thân từ Biệt Ðộng Quân, sau những năm tháng trận mạc dài dài, ông được lệnh thuyên chuyển làm tư lệnh cảnh sát vùng và những năm cuối cùng trước 30 Tháng Tư, 1975, ông được bổ nhiệm tư lệnh phó hành quân Sư Ðoàn 7 Bộ Binh do Tướng Trần Văn Hai làm tư lệnh. Khi Tướng Hai chuẩn bị tuẫn tiết thì vừa lúc ông mở đường máu dẫn quân từ Cai Lậy về Bộ Tư Lệnh ở Ðồng Tâm. Kết quả ông lãnh hơn 12 năm tù cải tạo. Ðược thả và định cư ở Mỹ theo diện HO, ông vẫn không muốn ở không để lãnh trợ cấp chính phủ nên không bao lâu sau khi định cư dù con cái ông đã khôn lớn và ổn định, cựu Ðại Tá Huỳnh Thanh Sơn vẫn nhận công việc của một nhân viên an ninh tư để thấy mình vẫn còn có ích cho xã hội.

Ông bị ung thư gan và qua đời cách đây 11 năm. Trước khi qua đời ông dặn vợ con là không nhận phủ cờ vàng vì cảm thấy mình không đáng được hưởng vinh dự ấy. Còn cựu Trung Úy Ðoàn Bá Phụ là cựu tù cải tạo ở trại A-20 và đồng thời là người tù nổi tiếng bất khuất, định cư ở Mỹ bằng cách vượt biển sau khi được thả ra khỏi trại vài tháng. Sang định cư ở Hoa Kỳ, Phụ lập gia đình, làm việc và nuôi dạy ba cô con gái sau này trở thành những sinh viên, học sinh xuất sắc và được học bổng của tỷ phú Bill Gates cũng như các học bổng khác. Trước khi qua đời anh trối trăn là đừng phủ cờ vàng vì cảm thấy mình không xứng đáng được hưởng vinh dự ấy và tôi là một trong những người chứng của lời trối trăn đầy can đảm này của người bạn tù. Những điều tôi viết ra chắc chắn có những người không đồng ý. Họ có thể có cách nhìn khác. Tôi tôn trọng và không tranh cãi. Vì theo cố Thiếu Tướng Lê Quang Lưỡng:

“Bao năm trời bao nhiêu chàng trai trẻ

Chết không cần cờ phủ vẫn uy nghi.”

Lòng can đảm của Tướng Lê Quang Lưỡng là một tấm gương sáng ngời một lần nữa củng cố niềm tin cho tôi, cho chúng tôi rằng, cuối cùng danh dự và chính trực muôn đời vẫn là thước đo con người dù trong hoàn cảnh chiến thắng hay trong hoàn cảnh bại trận.

Sau đây là một số bài thơ nhắc đến cờ vàng viết theo thể điệu của nhà thơ Du Tử Lê, "khi tôi chết hãy đem tôi ra biển ...  Theo tác giả Nguyễn Ngọc Trân, ông cho biết sở dĩ ông sáng tác bài thơ này là vì muốn bảo vệ sự thiêng liêng của lá cờ VNCH. 

Mai tôi chết cờ vàng xin đừng phủ.

Xác thân này đâu chết cho quê hương?

Súng gươm xưa đã bỏ lại chiến trường!

Thân chiến bại nhục nhằn nơi đất khách!

Hơn nửa đời đã tan rồi khí phách.

Nhớ bạn bè nằm xuống nghĩ mà đau!

Không quan tài cờ phủ giữa chiến hào,

Máu thịt đã thấm vào lòng đất mẹ.

Bao năm trời bao nhiêu người trai trẻ,

Chết không cần cờ phủ vẫn uy nghi.

Khi nằm xuống bạn nào đã lo chi?

Chỉ ước muốn thân này dâng đất nước,

Ta giờ đây đã tàn bao mơ ước!

Chuyện ngày xưa chỉ còn thấy trong mơ.

Ngày về quê càng lúc cứ xa mờ,

Thời gian vẫn lạnh lùng theo năm tháng.

Tuổi càng cao lòng càng nghe mặn đắng!

Xót thân này khi chết bỏ lại đây!

Nơi xứ người bạn hữu chẳng còn ai?

Mai tôi chết cờ vàng xin đừng phủ.

Với tinh thần “đừng” qua bài thơ “Khi tôi chết cờ vàng xin đừng phủ,” tác giả Ngọc Trân cảm hứng làm bài thơ sau đây, sau khi đọc bài “Khi tôi chết hãy mang tôi ra biển” của thi sĩ Du Tử Lê.

Mai tôi chết hãy mang tôi hỏa táng.

Nắm tro tàn xin rải khắp quê hương,

Nơi hành quân xưa trên khắp núi rừng.

Ðể được gặp bạn bè tôi nằm đó,

Ðể thấy lại Kon Tum trong khói lửa

Hay Quảng Trị xưa anh dũng kiêu hùng

Rải tro tôi trên thị trấn Bình Long

Nơi đồi gió bao lính dù nằm xuống.

Mai tôi chết đừng mang tôi ra biển

Sóng dập vùi thân xác biết về đâu?

Tro bụi tôi xin rải tận tuyến đầu.

Ðể nhìn lũ Cộng quân đang bán nước,

Thác Bản Giốc Ải Nam Quan ngày trước,

Bây giờ đây đã dâng hết cho Tàu

Tro tàn tôi xin rải tận Cà Mau.

Hay Phù Cát Bồng Sơn cùng Cửa Việt.

Mai tôi chết đừng mang tôi ra biển,

Mang tro tôi về Bình Giả Phước Long,

Nhớ năm xưa cùng chiến hữu một lòng,

Vung thép súng giữ lời thề ngày trước.

Mai tôi chết xin được như mơ ước,

Ðể tro tàn tôi bay khắp không gian.

Quê hương ơi! Tôi xin được một lần,

Nắm tro bụi thấm vào lòng đất mẹ.

Read 459 times
Top
We use cookies to improve our website. By continuing to use this website, you are giving consent to cookies being used. More details…